Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Tiêu chết, nhà nông Gia Lai mất 500 tỷ đồng

Vừa hết mùa mưa, nắng lên là tiêu đã bắt đầu đổ vàng, rụng lá rồi chết. Nhiều hộ đang khấm khá bỗng thành tay trắng, ôm thêm đống nợ khổng lồ.

Nông sản rớt giá - Nguy cơ thiếu lương thực cuối năm Vừa hết mùa mưa, nắng lên là tiêu đã bắt đầu đổ vàng, rụng lá rồi chết. Nhiều hộ đang khấm khá bỗng thành tay trắng, ôm thêm đống nợ khổng lồ. Tiêu, điều... vỡ trận Tiêu làm cay mắt của người trồng 

"Xót lắm chú ơi" -ông Bùi Văn Khánh, thôn 5, xã Ia Pal (Chư Sê, Gia Lai) than thở dẫn chúng tôi thăm vườn tiêu nhà ông. Bắt đầu trồng tiêu từ năm 2.000, gia đình ông Khánh có hơn 2.000 trụ, nhưng hiện đã chết gần hết, chỉ còn mấy trăm trụ. Oái ăm ở chỗ là chỉ một thời gian nữa thôi là tiêu cho thu hoạch, tiềnđầu tư cả năm cũng bị mất, nợ tiền đầu tư phân bón, thuốc ở đại lý là không thể tránh khỏi. Cùng chung cảnh ngộ với ông Khánh, ở thôn 5 của ông có 128 hộ thì hộ nào cũng có tiêu chết vài chục trụ, nhiều thì vài trăm trụ. 

Theo thống kê của Trưởng thôn 5, xã Ia Pal Vũ Văn Quyến, cả thôn có khoảng 50ha tiêu (99.000 trụ), cuối tháng 11 vừa rồi đã có hơn 10.000 trụ tiêu chết, bây giờ đã lên đến hơn 12.000 trụ và tiêu vẫn đang tiếp tục bị chết. 

Điều đáng nói ở đây là việc nhiều hộ dân trồng tiêu thì mờ mắt trước lợi nhuận của cây hồ tiêu mang lại (hiện giá vào khoảng 175.000 đồng/kg) đã vay tiền ngân hàng để đầu tư trồng, giờ tiêu chết không biết lấy gì để trả nợ. Như thôn 5, xã Ia Pan thì hầu như 100% số hộ vay tiền ngân hàng. Hộ vay ít thì tầm 40-50 triệu đồng như anh Bùi Văn Thinh, anh Nguyễn Ngọc Ngân, nhiều thì phải kể đến anh Nguyễn Văn Phươngvay 200 triệu đồng để đầu tư trồng tiêu. Anh Phương đầu tư trồng 3 vườn, gần 4.000 trụ thì đã chết trắng 1 vườn khoảng 600 trụ. 

Khó khăn phải nói đến hộ anh Bùi Văn Thinh, hai vợ chồng trẻ, con còn nhỏ, tích cóp vay ngân hàng 50 triệu đồng để trồng thì nay chẳng còn trụ nào. Bao nhiêu tiền tích cóp mấy năm qua đổ vào đầu tư phút chốc tan biến, trở thành trắng tay. Cũng đang lo vì khoản nợ 70 triệu đồng vay của ngân hàng, bà Trần Thị Lan than: "Tiêu chết thiệt thì thiệt rồi, chúng tôi mong ngân hàng thư thả cho chúng tôi để có điều kiện trả nợ dần". 

Tính đến ngày 21.11 theo báo cáo của Sở NNPTNT Gia Lai, tiêu chết nhiều thuộc về các huyện Chư Pưh 54,3ha, Chư Prông 94ha, Chư Sê 74ha, Đức Cơ 30ha... nhưng con số trên đã trở nên quá lạc hậu khi tiêu chết đồng loạt mới đây. Theo kết quả thống kê mới nhất của Phòng NNPTNT huyện Chư Pưh thì toàn huyện đã có 87ha tiêu bị chết. 

Chỉ tính riêng 4 huyện trên thì con số lên đến hàng trăm ha, nếu tính cả tỉnh Gia Lai thì con số lớn hơn rất nhiều. Hiện Sở đang tiến hành kiểm tra, thống kê kết quả tiêu chết trên địa bàn. Bình quân tiền đầu tư 1ha hồ tiêu từ khi trồng đến khi thu hoạch khoảng 700 triệu đồng thì số tiền thiệt hại của người dân trồng tiêu ở Gia Lai vào khoảng 500 tỷ đồng. 

Theo Quốc Dinh 

Dân Việt

Xuất khẩu nông sản 2014: Vẫn chưa suôn sẻ!

Năm 2013, phần lớn các sản phẩm nông sản chủ lực của ta đều gặp khó khăn trong XK, nhất là về thị trường, giá cả… Năm 2014 này, được dự báo vẫn tiếp tục khó khăn, nhưng cũng có tín hiệu để hy vọng.
Những ứng viên CLB tỷ USD
Trong những năm qua, XK nông lâm thủy sản đã có nhiều ngành hàng có mặt trong CLB tỷ USD, tức là đạt kim ngạch XK từ 1 tỷ USD trở lên. Có thể kể ra đây như thủy sản, gỗ và sản phẩm gỗ, gạo, cao su, cà phê, hạt điều và sắn. Trong năm 2014 này, nếu không có những biến động bất ngờ theo hướng xấu, chắc chắn sẽ có thêm 2 ngành hàng nông sản tham gia vào CLB tỷ USD, đó là hạt tiêu và rau quả.
Theo ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, đến hết năm 2013, XK hạt tiêu có thể đạt mức kỷ lục mới là trên 900 triệu USD. Đây là con số thống kê được từ XK chính ngạch. Nếu cộng với giá trị XK tiểu ngạch qua Trung Quốc, tổng giá trị hạt tiêu XK trong năm 2013 đã có thể đạt tới 1 tỷ USD. Nếu so với năm 2012, giá trị XK tiêu năm 2013 đã tăng thêm khoảng 100 triệu USD.
Trong những ngày cuối năm 2013, giá hạt tiêu trong nước đang tăng lên từng ngày và đứng ở mức rất cao. Những mức giá mới tuy không giúp cho nông dân hưởng lợi thêm được nhiều vì phần lớn sản lượng hạt tiêu đã được bán ra từ trước đó, nhưng đây là một cái đà rất tốt cho XK giá hạt tiêu năm 2014.
Còn giá hạt tiêu XK trong tháng 12/2013 cũng đã ở mức trên 7.000 USD/tấn. Giá hạt tiêu đang tăng mạnh có nguyên nhân từ tình trạng cung không đủ so với nhu cầu của thế giới. Bên cạnh đó, còn có việc nông dân sản xuất tiêu ngày càng làm tốt hơn trong việc chủ động trữ sản phẩm, chờ khi giá tốt mới bán. Những yếu tố đó đã góp phần quan trọng trong việc phá vỡ cái quy luật cứ 10 năm giá lên lại có 1 năm giá xuống mạnh, bởi đã 7 năm nay, giá tiêu liên tục ở mức cao.
Ngay cả trong năm 2013, khi những nhận định hồi đầu năm của các chuyên gia đều thống nhất rằng giá tiêu sẽ giảm nhiều, và nhất là khi sản lượng tiêu Việt Nam tiếp tục gia tăng, nhưng giá tiêu vẫn giữ ở mức cao và tăng mạnh trong tháng cuối năm. Trên cơ sở đó, ông Đỗ Hà Nam khẳng định, XK hạt tiêu chính ngạch trong năm 2014 hoàn toàn có thể lần đầu tiên chạm mốc 1 tỷ USD.
Một ngành hàng cũng đầy triển vọng tham gia vào CLB tỷ USD là rau quả. Đến hết tháng 10/2013, kim ngạch XK rau quả cả nước đã đạt 877,302 triệu USD, cao hơn cùng kỳ năm 2012 tới 27,8%. Từ tháng 8 đến tháng 10/2013, kim ngạch XK rau quả bị giảm dần qua từng tháng.
Nhưng trong tháng 10/2013, kim ngạch XK rau quả vẫn đạt mức trên 62 triệu USD. Bởi vậy, nếu trong tháng 11 và tháng 12, nếu kim ngạch XK rau quả tiếp tục giảm nhẹ, thì giá trị XK rau quả trong cả năm 2013 vẫn có thể ở mức xấp xỉ 1 tỷ USD. Do đó, nếu giữ được mức tăng trưởng như trong những năm qua, chắc chắn trong năm 2014, kim ngạch XK rau quả sẽ vượt qua mốc 1 tỷ USD.
Trong khi hạt tiêu và rau quả sẵn sàng vào CLB tỷ USD, thì XK điều 2014 hoàn toàn có thể chạm mốc 2 tỷ USD. Ông Nguyễn Đức Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam, cho biết, trong năm 2013, dự báo XK điều và các sản phẩm chế biến sâu từ điều (dầu vỏ hạt điều, nhân điều rang muối, bánh kẹo điều...) đạt khoảng 1,8 tỷ USD.
Trong năm 2014, nếu đẩy mạnh được chế biến sâu và giá điều XK tốt hơn 2013, giá trị XK điều có thể lên hơn 2 tỷ USD. Điều đáng mừng là các DN điều đang ngày càng đầu tư nhiều hơn vào chế biến sâu. Còn về giá điều XK, đáng mừng là giá XK sang Trung Quốc liên tục tăng. Khách hàng Trung Quốc đẩy mạnh mua nhân điều phục vụ cho lễ Tết. Giá nhân điều W320 trắng, đẹp, loại 1 được họ mua với mức 7,3 - 7,5 USD/kg, loại thường 7,2 - 7,35 USD/kg.
Với ngành gỗ, dự tính kim ngạch XK năm 2013 vượt qua mốc 5 tỷ USD và có thể đạt khảng 5,5 tỷ USD. Với đà tăng trưởng liên tục giữ ở mức 2 con số trong mấy năm qua, khả năng ngành gỗ chạm mốc 6 tỷ USD trong năm 2014 là hoàn toàn có thể.
Điều tiết cà phê để giữ giá
Ông Đỗ Hà Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam, cho biết, trên các kênh thông tin, tuyên truyền, lượng cà phê hàng hóa đang dư thừa rất lớn. Đặc biệt sản lượng cà phê Arabica lớn từ Brazil và các nước Nam Mỹ đang và sẽ ảnh hưởng tới cà phê Robusta của Việt Nam.
Cũng theo các kênh thông tin, tuyên truyền, sản lượng Robusta của Việt Nam tăng cao so với niên vụ trước, làm ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của cả ngành hàng. Chính vì cho rằng sản lượng lớn, nên các công ty nước ngoài chỉ mua đến đâu dùng đến đó, cho nên thị trường cà phê cuối 2013 vẫn đang ở tình trạng cung nhiều hơn cầu. Điều này dễ dần tới tình trạng ép giá cà phê mà nông dân bán ra.
Tuy nhiên, từ 3 năm nay, nông dân trồng cà phê đã tham gia vào việc điều tiết thị trường. Khi giá thị trường xuống, nông dân hạn chế bán ra. Lúc giá tăng mới đẩy mạnh việc bán sản phẩm. Nhờ đó, giá cà phê tương đối ổn định.
Năm 2013, giá cà phê đi xuống rất nhanh, nhưng những tháng cuối năm, có một thời gian dài bà con nông dân gần như không bán ra, nên giá đã lên trở lại. Nhiều DN XK dù đã ký được đơn hàng XK cà phê nhưng đang rất khó mua được cà phê, nên phải nâng giá thu mua lên. Các công ty nước ngoài vì thế cũng đã cảm thấy lo lắng. Nếu họ đẩy mạnh mua vào, thị trường sẽ ổn định hơn.
Ông Nam dự báo từ cuối 2013 đến trước Tết Giáp Ngọ, thị trường cà phê sẽ tương đối vững và ổn định đối với nông dân. Tuy nhiên, việc nông dân Việt Nam tạm trữ cà phê khi giá xuống cũng từng bị một số khách hàng quốc tế cảnh báo rằng sẽ tạo ra lượng hàng tồn kho lớn. Nếu giá bị sụt mạnh, nông dân sẽ bị thiệt hại lớn nhất.
Nhưng ông Nam cho rằng hoàn toàn không phải như vậy, vì khi giá lên, nông dân phải tranh thủ bán ra. Còn khi giá xuống, nông dân giữ cà phê lại, trong khi nhà NK vẫn bắt buộc phải mua một lượng hàng nhất định để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Cả hai bên cùng điều tiết thì thị trường cà phê sẽ ổn định hơn.
Chú trọng gạo thơm, gạo nếp
Ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, cho biết, so với đầu năm 2013, tình hình XK gạo đầu năm 2014 có nhiều sự thay đổi đáng chú ý. Trước hết, lượng gạo tồn kho cuối 2013 chuyển sang đầu 2014 giảm mạnh so với mức của cuối 2012 chuyển sang đầu 2013.
Trong khi đó, đến hết tháng 11/2013, lượng gạo đã ký hợp đồng XK trong đầu năm 2014 đã tương đương với lượng hợp đồng từ cuối 2012 chuyển sang đầu 2013. Đặc biệt, trong 500 ngàn tấn gạo 25% tấm mà Việt Nam trúng thầu XK sang Philippines trong đợt mở thầu cuối tháng 11/2013, chỉ có 120 - 150 ngàn tấn giao tháng 12/2013, còn 350 - 380 ngàn tấn giao trong quý 1/2014. Như vậy, tháng 2/2014, khi bắt đầu thu hoạch lúa Đông xuân, đã có sẵn hợp đồng tập trung sang Philippines. Do đó, XK gạo đầu năm 2014 sẽ không bị áp lực lớn như đầu 2013.
Dẫu vậy, trên bình diện toàn cầu, sản lượng gạo trong năm 2014 vẫn sẽ dư thừa so với nhu cầu, do nhiều nước XK tiếp tục gia tăng sản lượng lúa, tăng lượng gạo tồn trữ. Nhiều nước NK cũng tiếp tục gia tăng sản xuất lúa để giảm NK gạo.
Điều này đã thấy rõ trong năm 2013 khi Indonesia đã không NK gạo dù những năm trước đó, nước này đã NK nhiều gạo. Philippines cũng đã giảm tới 50% lượng gạo NK trong năm qua. Do cung vượt cầu, nên trong năm 2014, sự cạnh tranh giữa các nước XK gạo về thị trường, về khách hàng vẫn sẽ tiếp tục gay gắt. Chương trình thế chấp lúa ở Thái Lan cũng sẽ tác động tới giá gạo thế giới.
Bởi nếu trong năm 2014, Chính phủ nước này chỉ hỗ trợ cho 20% sản lượng lúa gạo, thì 80% còn lại sẽ phải đi vào thị trường tự do, sẽ khiến cho giá gạo trên thị trường thế giới không thể cao được. Mặt khác, Thái Lan vẫn sẽ tiếp tục bán gạo tồn kho với giá thấp. Giá lúa gạo vì thế sẽ không có khả năng tăng cao trở lại như ở mức năm 2012.
Trong bối cảnh ấy, để tiêu thụ được hết lúa gạo hàng hóa của nông dân, cần phải đặc biệt chú ý tới việc giảm giá thành, gia tăng sản xuất lúa chất lượng cao, lúa thơm, lúa nếp. Đẩy mạnh sản xuất lúa chất lượng cao là để hướng vào một số thị trường mà trước đây Thái Lan vẫn làm chủ. Bởi gạo của ta có một ưu thế mà gạo Thái Lan không có, đó là gạo mới thu hoạch.
Trong năm 2013, dù rất khó khăn về thị trường, nhưng lúa gạo hàng hóa vẫn được tiêu thụ hết cũng nhờ nông dân đã chuyển sang trồng lúa chất lượng cao nhiều hơn, các DN cũng chuyển mạnh sang XK gạo chất lượng cao. Đặc biệt, trong năm qua, gạo thơm được XK rất mạnh, ước tính đạt trên 800 ngàn tấn, tăng tới trên 70% so năm 2012 và chiếm tới 14% tổng lượng gạo XK. Có những thị trường, gạo thơm Việt Nam đã chiếm tới 42% thị phần.
Trong định hướng sản xuất lúa thơm nên tập trung đẩy mạnh sản xuất giống Jasmine, bởi đây là thế mạnh của Việt Nam do giống lúa này rất hợp với khí hậu, thổ nhưỡng nước ta. Và nhất là khi Thái Lan đang giảm mạnh việc sản xuất giống lúa này, còn giá gạo Jasmine do Mỹ sản xuất giá lại quá cao. Việc sản xuất lúa nếp cũng cần được quan tâm, đẩy mạnh hơn khi mà Thái Lan cũng đang giảm sản xuất nếp. Tuy nhiên, sản xuất nếp cần được quy hoạch thành những cánh đồng chuyên canh để tránh tình trạng bị lẫn lúa gạo thường, làm ảnh hưởng đến chất lượng nếp XK.
Ổn định XK thủy sản ngay từ nguyên liệu
So với những ngành hàng khác, thủy sản là ngành hàng khó dự báo cho năm 2014. Tôm là sản phẩm số 1 trong năm 2013 và sẽ tiếp tục giữ vị trí đầu tàu trong năm 2014. Giá tôm tăng cao trong những tháng cuối năm 2013, trong khi dịch bệnh đang từng bước được kiểm soát, sẽ là cú hích lớn cho người nuôi tôm.
Vì thế, nhiều khả năng sản lượng tôm trong năm 2014 sẽ tăng thêm nhiều so với 2013, nhất là tôm thẻ chân trắng. Trong năm 2013, sản lượng tôm thẻ chân trắng là 250 ngàn tấn, thì năm 2014 có thể lên tới 300 ngàn tấn.
Tuy nhiên giá tôm có còn cao như năm 2013 hay không lại là một câu hỏi không dễ để trả lời. Mà nhiều khả năng giá tôm khó có thể tiếp tục giữ được mức cao như cuối năm 2013, bởi sản xuất tôm ở nhiều nước vốn bị dịch bệnh EMS nặng trong năm 2013 như Thái Lan, Trung Quốc... có thể sẽ được phục hồi ít nhiều.
Trong khi đó, như đã nói ở trên, sản lượng tôm Việt Nam sẽ tăng lên, và có thể cũng sẽ tăng ở nhiều nước khác. Vì thế, theo ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký VASEP, cái căn bản nhất trong nuôi tôm là phải làm sao giữ được giá thành cũng như chất lượng sản phẩm.
Năm 2013, giá thành tôm thẻ ở mức 60.000 - 70.000 đ/kg, trong khi giá bán tôm thẻ loại 100 con/kg có thời điểm lên tới 140 ngàn đ/kg. Lợi nhuận quá lớn từ con tôm dễ khiến cho người nuôi chủ quan, mải chạy theo sản lượng bằng cách gia tăng mạnh mật độ thả nuôi, lạm dụng kháng sinh, hóa chất, khiến cho giá thành tôm nguyên liệu bị đội lên cao và ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
Mặt khác, chắc chắn trong năm 2014, nông dân sẽ gia tăng mạnh việc thả nuôi tôm thẻ. Khi ấy, nhu cầu tôm thẻ giống sẽ tăng cao, nên dễ dẫn tới khả năng thiếu hụt tôm giống ở nhiều thời điểm, khiến cho giá tôm giống tăng nhiều, làm gia tăng giá thành tôm nguyên liệu. Vì vậy, trong nuôi tôm 2014, phải làm sao tối ưu được giá thành, không để cho giá thành tôm thẻ lên tới 100.000 đ/kg. Có như vậy, ngay cả khi giá tôm XK không còn cao như cuối năm 2013, người nuôi tôm vẫn tiếp tục có lợi nhuận.
Cá tra cũng vẫn sẽ tiếp tục là sản phẩm XK chủ lực trong năm 2014 tuy đầu ra không dễ dự báo. Nhưng XK cá tra đang tiềm ẩn nguy cơ từ sản xuất cá tra nguyên liệu. Cuối năm 2013, giá cá tra nguyên liệu tăng lên bởi sản lượng cá nuôi trong dân đã gần như hết.
Tuy nhiên, việc tăng giá ấy chưa chắc đã khiến nông dân tích cực nuôi cá trở lại. Bởi ngoài những khó khăn về vốn liếng, về giá cả..., người nuôi cá tra hiện vẫn đang phải chịu thiệt thòi không ít từ khâu thanh toán.
Ông Hòe nhận định nếu thị trường cá tra nguyên liệu năm 2014 vẫn tiếp tục trong tình trạng thanh toán tiền mua cá giữa nhà máy với nông dân không được suôn sẻ, thì còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho cả ngành cá tra. Bởi khi người nông dân vẫn tiếp tục thiệt thòi lớn do bị nhà máy chậm thanh toán, bị chiếm dụng vốn ..., chắc chắn nông dân sẽ tiếp tục thu hẹp quy mô nuôi cá tra, khiến cho việc thu mua cá tra nguyên liệu phục vụ chế biến XK gặp khó khăn lớn.
Do đó, để ngành hàng cá tra được ổn định, thuận lợi hơn trong XK năm 2014, trước hết phải tạo được một thị trường cá nguyên liệu lành mạnh. Người nuôi phải được yêu cầu đăng ký sản lượng để DN có cơ sở tính toán XK, phải đảm bảo chất lượng cá tra đạt tiêu chuẩn XK, còn DN phải đảm bảo thanh toán đúng hạn và đầy đủ cho nông dân. Và một điều quan trọng nữa là phải tạo được sự công bằng giữa nông dân và DN khi cả 2 cùng nuôi cá tra. Vì hiện nay, khi tổ chức nuôi cá tra, DN được khấu trừ 5% thuế GTGT về TĂCN, trong khi nông dân vẫn phải gánh khoản thuế này khi mua thức ăn cho cá tra.
Theo Thanh Sơn
Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

Ở nước ta, nhiều nơi sản xuất tiêu bón phân vượt từ 4 - 5 lần khuyến cáo, gây tốn kém, độc hại và dẫn đến ô nhiễm môi trường.

Trong khi, theo khuyến cáo của các nhà khoa học thì lượng phân vô cơ bón cho 1ha tiêu để đạt năng suất cao nhất và hiệu quả kinh tế là từ 200 – 400kg N, 100 – 200kg P2O5, 225 – 400kg K2O trong mỗi năm, tùy theo chân đất và loại trụ trồng tiêu. Việc bón bổ sung phân hữu cơ hoặc phân bón lá đã cung cấp thêm một lượng dinh dưỡng khoáng đa lượng, trung và vi lượng cho cây tiêu. Phân gà và phân hữu cơ chế biến có tác dụng tốt trong phòng trừ bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora capsici.
Sản xuất hồ tiêu hữu cơ không áp dụng phân bón, cũng như không sử dụng thuốc trừ sâu bệnh hóa học. Người sản xuất cần có kỹ thuật cao như biết trồng xen hồ tiêu với các cây phân xanh, hoặc cây họ đậu tạo điều kiện cung cấp các chất dinh dưỡng kết hợp có hiệu quả. Ngoài ra, nông dân cần tận dụng vật chất nông nghiệp phế thải như cành lá cây, phụ phẩm cây trồng, cỏ dại, phân gia súc gia cầm có sẵn trong nông hộ hoặc tại địa phương để chế biến thành phân trộn hữu cơ theo đúng kỹ thuật bón cho cây tiêu nhằm tăng cường độ phì nhiêu trong đất. 
Hiện nay, việc sản xuất hồ tiêu theo hướng hữu cơ còn mới mẻ và chưa có quy trình khuyến cáo mức phân bón và loại phân bón hữu cơ cụ thể như sản xuất thông thường. Một số tài liệu khoa học tin cậy khuyến cáo áp dụng phân bón trong sản xuất hồ tiêu với lượng 5 - 10kg phân chuồng cộng với 5 - 10kg phân trộn hữu cơ cho một trụ tiêu căn cứ vào độ tuổi cây tiêu mà bón nhiều hoặc ít. Cung cấp chất lân (P) bằng bón quặng photphat hoặc bột xương hay bón tro gỗ nhằm cung cấp bổ sung chất lân (photphorus) và kali (potassium) cho cây tiêu. Đất phèn tăng cường bón vôi. 
Khi cây tiêu biểu hiện thiếu các yếu tố dinh dưỡng vi lượng dẫn đến giảm năng suất, ở các nước sản xuất hồ tiêu hữu cơ như Ấn Độ, khuyến cáo có thể sử dụng hạn chế một lượng phân hóa học hoặc phân khoáng dinh dưỡng vi lượng và phân magiê sunfat trong tiêu chuẩn đã được cho phép bởi một cơ quan cấp chứng nhận hữu cơ. Đồng thời bón bổ sung bánh dầu (như bánh neem, 1kg/trụ), phân trộn xơ dừa (2,5kg/trụ) hoặc phân trộn vỏ cà phê giàu chất kali, giúp nuôi dưỡng vi khuẩn Azospirillum và vi khuẩn hòa tan lân nhằm cải thiện độ màu mỡ của đất trồng tiêu. 
Ngoài ra, sản xuất hồ tiêu hữu cơ chỉ cho phép áp dụng thuốc trừ sâu bệnh sinh học phối hợp với các biện pháp canh tác và vệ sinh đồng ruộng trong việc phòng trừ sâu bệnh cho cây tiêu.

Hồ tiêu - thay đổi để giữ vị thế

VINAGRI News - Những năm qua, trong khi hầu hết mặt hàng nông sản xuất khẩu đều giảm giá, thì hồ tiêu vẫn vững vàng đứng ở mức cao. Năm 2013, theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), các doanh nghiệp xuất khẩu 135.000 tấn, đạt giá trị 900 triệu USD, tăng cả về lượng, giá và kim ngạch. Hiện nay, giá hồ tiêu trong nước khoảng 170.000 đồng/kg. Hồ tiêu Việt Nam cùng với cà phê Robusta và nhân điều có lượng giao dịch lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 50% và là ngành hàng duy nhất có thể chi phối được phần nào giá khi có sự tham gia dự trữ và điều tiết từ người dân, không bán ra ồ ạt khi giá giảm.

Anh Hoàng Việt Hưng ở xã Ea Po, huyện Cư Jut bên vườn tiêu đã được phục hồi, hứa hẹn bội thu.

Có tránh “vết xe đổ”?

Năng suất hồ tiêu Việt Nam cao gấp 2,9 lần so với Indonesia, gấp 8,2 lần so với Ấn Độ nên có tính cạnh tranh nhờ giá thành thấp và chất lượng không thua kém các nước xuất khẩu khác về mùi vị, màu sắc, hàm lượng dầu. Việt Nam trở thành nước sản xuất hồ tiêu hàng đầu, chiếm 35% sản lượng và gần 50% thị phần thế giới.

Năm 2013, hồ tiêu Việt Nam xuất khẩu đạt giá trị 900 triệu USD với khoảng 135.000 tấn, đang chiếm lĩnh thị trường Mỹ, Đức, Nhật, Hà Lan... 3 năm gần đây có thêm 6.000ha trồng mới, đưadiện tích hồ tiêu ngấp nghé 60.000ha. Nhưng cái giá cho sự phát triển ồ ạt này không nhỏ, luôn tiềm ẩn nguy cơ do hồ tiêu được trồng chuyên canh với mật độ dày, 1.500 - 2.500 trụ/ha, theo hướng thâm canh nên rất nhạy cảm với sâu bệnh.

Do quá lạm dụng phân bón hóa học, hệ lụy là vi sinh vật có ích trong đất và các loại thiên địch hầu như bị tiêu diệt, làm phát sinh dịch bệnh tràn lan như bệnh rệp sáp… Nguy hiểm nhất là bệnh “chết nhanh”, “chết chậm”, “tiêu điên”. Càng bị dịch bệnh, càng phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều hơn nên môi trường đất bị ảnh hưởng nặng, khiến nhiều vườn tiêu bị suy kiệt, tuổi thọ cây giảm hẳn, thậm chí nhiều vườn tiêu bị chết hoàn toàn.

Đó là chưa nói đến tồn dư hóa chất trong sản phẩm khó tránh khỏi, trong khi những thị trường chính hồ tiêu Việt Nam ngày càng đòi hỏi khắt khe về chất lượng, sản phẩm phải đạt chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, không được tồn dư hóa chất và vi sinh vật gây hại.

Những quốc gia từng là số 1 thế giới về xuất khẩu hồ tiêu như Indonesia, Ấn Độ cũng vì lạm dụng phân bón hóa học nên sau thời gian phát triển ồ ạt đã phải trả giá cho sự thiếu bền vững này. Đây là bài học mà Việt Nam cần quan tâm để tránh đi vào “vết xe đổ”.

Khẳng định vai trò phân hữu cơ 

Khảo sát của Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam (KHKTNNMN) cho thấy, người dân trồng hồ tiêu ở những vùng trồng tập trung từ Tây Nguyên, Đông Nam bộ và duyên hải miền Trung sử dụng phân bón vô cơ cao hơn khuyến cáo, lại không cân đối, và điều quan trọng mà người dân trồng hồ tiêu chưa chú ý, đó là ít sử dụng phân hữu cơ. Những điều này cùng với các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa đúng, tạo điều kiện sâu bệnh xảy ra khá phổ biến, gây ảnh hưởng rất lớn đến các vùng trồng tiêu.

Viện KHKTNNMN cũng ghi nhận, nơi nào sử dụng nhiều phân hữu cơ (bao gồm phân xanh và thân lá thực vật) thì ít xuất hiện sâu bệnh hơn. Ngoài việc giúp giảm thiểu sâu bệnh, phân hữu cơ còn có vai trò quan trọng trong việc làm tăng độ phì trong đất và giúp nâng cao hiệu quả sử dụng phân vô cơ. Việc chú trọng sử dụng phân hữu cơ trong thâm canh hồ tiêu là phương thức hiệu quả, bền vững, nhưng nguồn phân hữu cơ sử dụng phải đảm bảo chất lượng để không đưa độc tố vào đất trồng.

Theo TS Đỗ Trung Bình, để năng suất duy trì ở mức độ cao phù hợp, vườn tiêu khỏe cần phải bón đầy đủ và cân đối giữa phân hữu cơ và vô cơ. Việc áp dụng GAP vào sản xuất hồ tiêu hướng tới sự bền vững là đòi hỏi cấp bách. Những mô hình sản xuất hồ tiêu theo hướng GAP ở Gia Lai, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, đảo Phú Quốc (Kiên Giang) đã đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng tiêu đen xuất khẩu, không sâu mọt, nấm mốc và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đều dưới ngưỡng quy định cần được nhân rộng. Có thể nói, đó là hướng đi tất yếu nếu muốn duy trì ngôi vị số 1.

GS-TS Nguyễn Thơ - Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thực vật Việt Nam, cho biết, canh tác cây tiêu theo hướng hữu cơ là tất yếu vì đó là con đường bền vững. Vấn đề là làm sao nông dân chọn được sản phẩm thật sự chất lượng. Theo ông, trong quá trình khảo sát thực tế nhiều tỉnh Tây Nguyên trên những vườn tiêu suy kiệt sau thời gian lạm dụng phân hóa học, có dấu hiệu bị bệnh chết chậm mà cán bộ khuyến nông khuyến cáo chặt bỏ, việc sử dụng phân hữu cơ sinh học Vinaxanh đã giúp phục hồi tốt về năng suất, tăng tính chống chịu, giảm 40% lượng phân hóa học. Đây là sản phẩm được nghiên cứu và sản xuất từ nguyên liệu ngay trong nước với sự hợp tác giữa Trung tâm Tư vấn và hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn (Hội Làm vườn Việt Nam), các cộng sự Công ty Nông Nghiệp Xanh Việt Nam và các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm và Khoa học công nghệ Việt Nam, phù hợp với sự phát triển cây hồ tiêu theo hướng bền vững, hữu cơ, GAP.

Công Phiên/ Báo SGGP

Giá hạt tiêu toàn cầu tiếp tục tăng vững

VINANET - Thị trường hạt tiêu Ấn Độ chứng kiến xu hướng tăng vững, sau khi giá hạt tiêu mới đây tăng lên 55.000 rupee/100 kg. Các thương gia đã báo cáo nhu cầu suy yếu, trong bối cảnh áp lực bán ra vào tuần trước. Tuần trước (từ 23-27/12), trên sàn giao dịch NMCE, giá hạt tiêu giao dịch kỳ hạn tháng 1 và tháng 2 giảm 579 rupee/100 kg và 614 rupee/100 kg theo thứ tự lần lượt, lên 53.001 rupee và 53.111 rupee phiên hôm thứ 6 (27/12). Doanh thu tăng 33 tấn, lên 91 tấn, trong khi đó hoạt động bán ròng tăng 10 tấn, lên 22 tấn. Phiên giao dịch hôm thứ sáu (27/12), giao dịch hạt tiêu kỳ hạn tháng 1 tăng lên 53.230 rupee/100 kg.
Trong khi đó, các yếu tố cơ bản hỗ trợ giá hạt tiêu tiếp tục tăng là sản lượng hạt tiêu Ấn Độ và toàn cầu suy giảm trong năm nay, các nhà phân tích cho biết. Theo Hiệp hội hạt tiêu Việt Nam, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam năm 2013 sẽ đạt 130.000-135.000 tấn, với trị giá đạt kỷ lục 900 triệu USD, tăng 12% so với năm trước đó. Trong 11 tháng đầu năm 2013, Việt Nam đã xuất khẩu 130.000 tấn hạt tiêu với trị giá 872 triệu USD, tăng 18% và tăng 16,1% về lượng và trị giá so với cùng kỳ theo thứ tự lần lượt.
Sản lượng hạt tiêu Ấn Độ trong năm 2013 dự kiến giảm 10.000 tấn, xuống còn 45.000 tấn, trong khi đó tiêu thụ dự kiến đạt 48.300 tấn.
Sản lượng hạt tiêu toàn cầu năm 2014 dự kiến giảm hơn 6.500 tấn, xuống còn 333.500 tấn, giảm 2%.
Theo số liệu được đưa ra bởi Ủy ban gia vị Ấn Độ, xuất khẩu hạt tiêu của nước này trong giai đoạn từ tháng 4-9/2013 tăng 36%, lên 10.200 tấn so với 7.515 tấn cùng kỳ năm trước.
Nguồn: Reuters